Tử vi giảng minh (phần 1) giới thiệu về khoa tử vi đẩu số

Ngũ Nhạc Quán 18/12/2018

Cách lập lá số tử vi

Lá số tử vi của mỗi người được thành lập dựa vào các yếu tố vào giờ, ngày, tháng, năm sinh (âm lịch) và giới tính.

Trước hết vẽ bản đồ, giữa Địa Bàn, chung quanh là Thiên Bàn với các cung. Bản đồ phải đủ lớn để viết trên 100 Sao.

Ghi năm, tháng, ngày giờ sinh, giới tính, an mạng và tính cục, ghi vào Địa bàn.

Sau đó xác định các đai vận và ghi trên Thiên bàn.

Tiếp đến, tiến hành an lá số tử vi. Đầu tiên là an sao Tử vi. Sau đó là an các bộ sao Tử vi, Thiên phủ, Thái tuế, Thiên không, Lộc tồn, Tràng sinh, Hung sát tinh, Trung tinh.

Sau cùng ghi tiểu vận, các sao lưu, sao bay, và di cung.

11 h trưa đến 1 h chiều là giờ Ngọ (12 h trưa là chính Ngọ). 11 h đêm đến 1 h sáng là giờ Tí.

Xem Địa Bàn trước: Ngũ hành tương sinh (Cục sịnh mệnh, cung an mệnh sinh mênh...) Âm dương Thuận lý (Dương Nữ sinh vao cung DƯơng...) gọi là lá số Tốt. Âm dương nghịch lý, Ngũ hành Tương Khắc gọi là lá số xấu

Cách giải đoán Tổng Quát

Muốn lập thành một lá số Tử vi cần phải hội đủ 4 yếu tố là giờ, ngày, tháng, năm sinh theo âm lịch và giới tính. Cách lập thành lá số Tử vi nói chung có nguyên tắc, trình tự được chỉ dẫn khá rõ ràng, nhưng về phương cách giải đoán thì còn phải tùy theo trình độ, cơ duyên và kinh nghiệm... của người giải đoán mà sẽ có những lời giải đoán khác nhau.

Khi giải số, nói chung cần phải theo đúng những tiến trình luận đoán số, nắm được những đặc tính của các sao, nắm được những cung cần phải xem và những vận hạn trong cuộc đời phải biết, cần phải xem xét các sao trong cung, sao xung chiếusao tam hợpsao nhị hợp.

Xem một lá số tử vi, ta có thể biết được các thông tin về đương số, và mối quan hệ với các cá thể khác, thông qua phép Thái Tuế Nhập Quái. Một trong những đặc điểm khác biệt giữa Nam và Bắc Phái, đó là Bắc Phái sử dụng Lưu Tứ Hóa làm chủ chốt trong giải đoán.

Cách xem vận hạn

Nghiên cứu lá số tử vi, ta có thể biết được vận hạn cuộc đời của đương số. Trong tử vi, có các loại vận là: Đại vận 10 nămVận nămVận Tháng,Vận NgàyVận Giờ.

Đại hạn,

Tiểu hạn,

Nguyệt hạn,

Nhật hạn.

Cũng có người cho rằng: Mệnh tốt không bằng Thân tốt, Thân tốt không bằng Phúc tốt hoặc Mệnh tốt không bằng Thân tốt, Thân tốt không bằng Hạn tốt...

Càng khảo sát chi tiết về mặt thời gian thì càng đòi hỏi trình độ cao trong luận đoán. Dễ nhất là khán lá số ở mức độ nguyên thủy, tính cách nói chung, khó hơn là khán ở mức độ Đại Vận, và khó nữa là mức độ Lưu Niên. Một số nhà nghiên cứu tử vi có trình độ cao có thể khán chính xác đến tận hạn ngày, thậm chí chính xác tới hạn giờ tai nạn thông qua lá số tử vi.

Để giải đoán vận theo năm, người ta phải sử dụng sao lưu và các lưu cung.

Trong giải đoán ở mức độ vận năm, có ba kỹ thuật vận chính được sử dụng là Lưu Niên Đại VậnTiểu VậnLưu niên Thái Tuế,

Có các trường phái xem Niên vận, dựa vào việc di các cung tương ứng để cung mệnh trùng với cung an vận. Có ba trường phái chính:

  • Lưu Cung Mệnh tại Lưu Niên Đại Vận, bởi Vân Đằng Thái Thứ Lang, và hầu hết các tử vi gia ở VN.
  • Lưu Cung Mệnh tại Tiểu Vận (nhưng đang bị một số học giả khác phê phán).
  • Lưu Cung Mệnh tại cung có Lưu Thái Tuế, được sử dụng rộng rãi ở Đài Loan.

Đến nay, có nhiều trường phái không thống nhất nhau về cách an vận theo tháng. Theo [Vân Đằng Thái Thứ Lang], nguyệt vận được tính từ tiểu vận, đếm nghịch đến tháng sinh, coi đó là giờ Tí, đếm thuận theo giờ sinh, được coi như đó là tháng 1.

Có nhiều kỹ thuật khác nhau cần kết hợp với các lý thuyết Lưu Cung để xem vận, trong đó có thể kể đến lý thuyết sao Treo, sao Rung, vòng trường sinh bay, lý thuyết Lưu Cục, lý thuyết Kỳ Số.

Giới hạn

Có tất cả 518.400 (60 can chi, 12 tháng, 30 ngày, 12 giờ, và 2 giới tính) lá số khác nhau trong Tử Vi. Có người dùng con số nầy để đi đến kết luận rằng Tử Vi không thể dùng để lý giải sự khác nhau của những người sinh cùng thời điểm.

Có người sử dụng lý thuyết sao mệnh chủ,sao nòng cốt hoặc kết hợp với các phương pháp khác như Bói dịchTướng số.. để vượt qua giới hạn này.

Những phái nổi tiếng trong lãnh vực Tử Vi

Hiện nay, có một số môn phái tử vi như:

  • Phái Tử Vân, ở Đài Loan
  • Phái Trung Châu, ở Hồng Kong.

Thế đứng các sao trên lá số

Trong lá số tử vi, các sao được xem xét dựa vào thế đứng của chúng bao gồm thế tam chiếu (Nhật ở Tỵ, Nguyệt ở Dậu chiếu vào Mệnh tại cung Sửu gọi là " Nhật Nguyệt chiếu bích" đẹp hơn Nhật Nguyệt đồng cung ở Sửu, Mùi), thế xung chiếu (Nhật ở Tỵ chiếu vào cung Mệnh ở Hợi gọi là " Thái dương chiếu mênh" hặc là cách " Thái dương Tỵ" đẹp hơn Thái dương thủ mệnh), thế nhị hợp (Gấp đôi lá số theo chiều dọc, cung Tỵ với cung Thân, cung Ngọ với cung Mùi...) và đặc biệt là bộ Thiên Địa Nhân. Các cung trên lá số chỉ báo trạng thái chung nhưng phải tìm được bộ Thiên Địa Nhân mới thấy được bản chất thực của các vấn đề.

Tam chiếu: Dần - Ngọ - Tuất, Tỵ - Dậu - Sửu...

Xung chiếu: Dần - Thân, Tỵ - Hợi, Thìn - Tuất...

Thế Nhị Hợp, Lục Hội: Các sao đối xứng nhau qua trục nằm ngang như: Tử Vi lục hội với Cự Môn, Vũ Khúc nhị hợp với Thái Âm, Thiên Phủ nhị hợp Thái Dương, Thiên Cơ nhị hợp Phá Quân lục hội Thiên Tướng, Tham Lang nhị hợp Thiên Đồng, Liêm Trinh nhị hợp Thiên Lương.

 

(Còn tiếp....)