Thi thảo (cỏ thi) văn vương chu dịch

1.372.000₫ Còn hàng

Tên sản phẩm: Thi Thảo

Số lượng: 50 cỏ/hộp

Công dụng: Dùng bói dịch theo phương Pháp Văn Vương, Quỷ Cốc Tử

CỎ THI VỚI BÓI DỊCH

Cỏ thi (danh pháp khoa học: Achillea) là một chi của khoảng 85 loài thực vật có hoa thuộc họ Cúc (Asteraceae), nói chung được gọi là cỏ thi. Chúng có mặt ở châu Âu và các khu vực ôn đới của châu Á và một số ít loài ở Bắc Mỹ. Các loài thực vật này nói chung có các lá dạng diềm xếp nếp có lông và hương thơm.

Các loài cây này có các cụm hoa lớn và phẳng bao gồm nhiều hoa nhỏ mọc ở phía trên của thân cây. Các hoa có thể có màu trắng, vàng, da cam, đỏ hay hồng, tùy theo loài. Một loạt các loài là những cây mọc phổ biến trong vườn.
Tên gọi khoa học của chi này được đặt theo tên của một nhân vật trong thần thoại Hy Lạp là Achilles. Theo câu chuyện trong Illiad, các binh lính của Achilles đã sử dụng cỏ thi để điều trị các vết thương

Các loài trong chi Achillea bị ấu trùng của một số loài côn trùng thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) phá hại - xem Danh sách các loài cánh vẩy phá hại cỏ thi.

Công dụng của Cỏ

Tên khoa học là Achillea millefolium, là một cây cao từ 30 đến 90 cm, thân mảnh mai có lông rơ, lá giống lá dương xỉ, hoa trang nhã có đốm vàng ở chính giữa và hồng hoặc trắng ngà ở cánh. Là cây lưu niên, mọc ở những khoảng đất trống trải đầy ánh nắng có khí hậu ôn hòa, nguồn gốc từ châu u và Tây á, thuộc h Compositae. Cỏ thi được nhiều nền văn hóa coi là kỳ bí.

Trong bói toán của người Trung Hoa người ta gieo các cọng cỏ thi để xem cách sắp xếp quẻ. Các giáo sĩ vùng Celt và người Anglo – Saxon cũng dùng cỏ thi để bói và làm bùa. Nhiều nơi xem cỏ thi như có năng lực hộ mạng chống lại tà ma yêu thuật.

Các thầy phù thủy ưa dùng cỏ thi và ngải cứu. Người Anh cổ xưa thì coi cỏ thi là một trong số ít các loại cây có thể chữa bá bệnh. Người da đỏ châu Mỹ thuộc bộ lạc Navajo coi cỏ thi như một thứ thuốc bách niên, vừa bổ vừa chữa mọi bệnh tật. Trong quyển sử thi Illiad của Homer, chính anh hung Achilles đã dùng cỏ thi để rịt máu cho chiến sĩ của mình. Mọi nơi trên thế giới đều dùng cỏ thi để làm lành vết thương, cầm máu, làm dịu vết bỏng và vết thâm tím. Nó còn dùng để làm se da, dịu đau, chữa đau tai, giảm sốt, gây thèm ăn, và chống viêm phỏng. Đối với hệ thống tiêu hóa và tuần hoàn máu, cỏ thi làm tháo mồ hôi, cầm máu, sát khuẩn, kích thích và gây đánh hơi.


Trong lĩnh vực sắc đẹp, cỏ thi vừa có tính chữa bệnh vừa có tính tẩy sạch và làm se da, rất tốt cho da nhờn và da bệnh. Pha như pha trà, lấy nước bôi lên da sẽ trị được ngứa và mụn nhọt. Lá tươi giã nát hoặc ngâm mềm trong dấm chua hoặc rượu, hoặc bột lá khô đắp lên các chỗ da bệnh có tác dụng chữa lành nhanh chóng.Trà cỏ thi có thể dùng để rửa mặt mỗi ngày đối với da nhờn và da trung bình, vừa làm se da vừa trị được các bệnh ngoài da. Da khô thì không thể dùng cỏ thi hàng ngày, nhưng có thể thỉnh thoảng dùng nó để trị viêm sưng hay mụn nhọt. Nhưng uống trà cỏ thi thì có lợi cho mọi loại da, nó là thuốc bổ kích thích tuần hoàn máu, tăng cường khả năng lành bệnh của cơ thể.

Sách vở viết rằng cỏ thi không chỉ được dùng để trị bách bệnh ở mọi nơi mà đặc biệt ở nước Anh cổ xưa còn được dùng để bói tình yêu.

Trong y học

Cỏ thi, Dương kỳ thảo, Xương cá - Achillea millefolium L., thuộc họ Cúc- Asteraceae.

Mô tả: Cây thảo sống dai, cao 20-40cm hay hơn, có thân mang hoa mọc đứng, khía rãnh dọc chiều dài. Lá không cuống, hẹp, rìa phiến lại chia ra thành rất nhiều các đoạn rất sâu, nhọn và có răng ở mép. Ðầu hoa màu trắng hay hồng, xếp thành ngù rộng ở ngọn; lá bắc thuôn, rất tù, với một cạnh khỏe ở lưng. Quả bế xoan, thuôn dẹp.
Mùa hoa tháng 6-9.

Bộ phận dùng: Toàn cây có hoa - Herba Achilleae.

Nơi sống và thu hái: Cây mọc ở vùng núi cao các tỉnh Lao Cai (Sapa), Sơn La và Lâm Ðồng (Ðà Lạt) trong các savan cỏ trên đường đi, rìa rừng và đất hoang. Thu hái cây lúc có hoa, dùng tươi hay phơi trong râm đến khô.

Thành phần hoá học: 
Cây chứa tinh dầu, chất nhựa, tanin, phosphat, nitrat, muối kali, acid hữu cơ. Glucosid đắng đã biết là achillein; nó là một glucosid cyanogenetic hay một glucoalcaloide. Còn một alcaloid kết tinh gọi là betonicin.

Tính vị, tác dụng: 
Vị ngọt, đắng, cay, tính hàn, có ít độc; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lương huyết tiêu thũng, chỉ thống, điều kinh. Trong Tây y, người ta cho nó là chất kháng viêm và chống co thắt, kích thích nội tiết các dịch tiêu hóa (giúp ăn ngon) nó điều hòa và chống co thắt trong chứng rối loạn kinh nguyệt, và còn là chất làm tan sưng. Nhưng với liều cao nó gây chóng mặt và đau đầu.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: 
Ðược dùng chữa: 1. Mệt mỏi toàn thân, ăn uống không ngon, trướng bụng, ỉa chảy; 2. Ho, hen suyễn; 3. Kinh nguyệt không thông, hành kinh đau bụng, rối loạn khi mãn kinh; 4. Thấp khớp, thống phong; 5. Sỏi mật và sỏi niệu; 6. Trĩ, sốt liên miên. Liều dùng 4-12g, dạng thuốc hãm uống hay phối hợp với các vị thuốc khác. Dùng ngoài trị bạch đới, lậu, trĩ, đau khớp, viêm da, viêm mủ da, mụn nhọt, nứt da, cầm máu các vết thương, rắn cắn, chó cắn... lấy cây tươi giã đắp.

Bói Dịch Cỏ thi

Bói Dịch bằng cỏ thi là một hình thức bói Dịch, lập quẻ bằng cách sắp các cọng cỏ thi theo một quy tắc riêng.


Bói Dịch nguyên là phép xem bói bằng mai rùa (bói giáp cốt). Xưa kia, các thuật sĩ xem hoa văn trên mai rùa mà suy đoán khí hậu, thời tiết, các điều lành dữ... Về sau, phép bói cỏ thi được dùng thay thế hoặc bổ sung cho phép bói mai rùa.
Phương pháp bói bằng cỏ thi được ghi trong "Hệ từ truyện" (chương IX và chương XI, thiên thượng). Sau này, người ta đơn giản hóa việc lấy quẻ Dịch bằng cách gieo đồng xu (còn gọi là lắc hào).

Cách lập quẻ Dịch bằng cỏ thi

• Vật bói: 50 cọng cỏ thi (hoặc 50 que nhỏ).
• Để cho tiện, ta quy ước các ngón bàn tay trái là ngón trỏ số 1, ngón giữa số 2, ngón áp út số 3 và ngón út số 4.
• Cần thao tác ba lần mới được một hào, nghĩa là mất 18 lần mới được một quẻ bói.

Gieo hào 1 (hào sơ)
Lần 1
• Trả một que vào hộp (hộp dùng để đựng các que bói), chỉ dùng 49 que bói thôi. Chia đại thành 2 mớ bất kỳ, đặt mỗi mớ vào một cái khay (Ta gọi A là mớ que bên trái, B là mớ que bên phải)
• Lấy một que ở mớ B kẹp vào kẽ ngón 3 và ngón 4 tay trái.
• Tay phải tách mớ A thành từng đợt 4 que, sao cho số que dư còn lại là ≤ 4 (ít hơn hoặc bằng 4). Lấy số que dư đó kẹp vào kẽ ngón 2 và ngón 3 tay trái.
• Tay phải tách mớ B thành từng đợt 4 que như trên rồi kẹp số que dư ≤ 4 vào kẽ ngón 1 và 2 tay trái.
Tổng các que trên bàn tay trái là 5 hoặc 9 (9 sẽ được xem là 2, 5 sẽ được xem là 3). Để số que (5 hoặc 9) này qua một bên. Đó là kết quả lần 1.

Lần 2
• Bó que còn lại sẽ là 44 hoặc 40 (do 49 quẻ trừ đi kết quả lần 1 là 5 hoặc 9). Chia đại thành hai mớ bất kỳ A và B. Tiếp tục làm như ở lần 1. Tổng các que trên bàn tay trái sau đó sẽ là 8 hoặc 4 (8 sẽ được xem là 2, 4 sẽ được xem là 3). Để số que (8 hoặc 4) này qua một bên. Đó là kết quả lần 2.

Lần 3
• Số que còn lại có thể là 32 hoặc 36 hoặc 40 (do 44 và 40 trừ kết quả lần 2 là 4 hoặc 8). Chia đại làm hai mớ bất kỳ A và B, rồi tiếp tục tách ra từng đợt như trên. Sau đó tổng các que trên bàn tay trái sẽ là 8 hoặc 4 (8 sẽ được xem là 2, 4 sẽ được xem là 3). Để số que (8 hoặc 4) này qua một bên. Đó là kết quả lần 3.

Cộng 3 kết quả trên với nhau ta được một hào. Thí dụ: Lần 1 được 5 que, lần hai được 8 que, lần 3 được 4 que. Vì 5 kể là 3, 8 kể là 2, 4 kể là 3 nên tổng (5 +8 +4) phải được kể là 3 + 2 +3 = 8.
Dựa theo bảng bói để biết nó là hào gì:
• Số 9: Lão dương (động)
• Số 6: Lão âm (động)
• Số 7: Thiếu dương (tĩnh)
• Số 8: Thiếu âm (tĩnh)
Hào sơ mới gieo được là số 8, vậy nó là hào thiếu âm.

Gieo hào 2
Gom lại đủ 49 que bói, thao tác y hệt như trên, sau 3 lần ta sẽ được một tổng có thể là 6 hoặc 7 hoặc 8 hoặc 9. Rồi căn cứ vào bảng bói trên mà biết đó là hào gì.

Gieo hào 3, 4, 5, 6
Thực hiện như trên.
Như vậy, mất 18 lần thao tác ta mới lập được một quẻ bói.

Đoán giải

Sau khi lập được quẻ Dịch với quẻ gốc (quẻ chủ), hào động và quẻ biến (nếu có), người giải đoán căn cứ lời quẻ (thoán từ), lời hào (hào từ) trong Kinh Dịch để luận đoán sự lành dữ, tốt xấu cho đương sự.

Lời giải là sự tổng hợp của thoán từ và hào từ của quẻ gieo được, chú trọng nhất là hào động. Ngoài ra cần xét thêm quẻ biến từ hào động và quẻ hỗ. Khi xét quẻ biến thì bỏ đi ý nghĩa của hào tương ứng với hào động. Trong bói toán, tính trực giác của người giải đoán là rất quan trọng cho kết quả giải đoán.

Nội dung tùy chỉnh
Nội dung tùy chỉnh
0969354554
popup

Số lượng:

Tổng tiền: