Đạo giáo với hành trình cùng dân tộc

Ngũ Nhạc Quán 01/06/2018
dao-giao-voi-hanh-trinh-cung-dan-toc

Từ trước thế kỷ X Đạo giáo đã vào Việt Nam, (rất có thể là vào thời Đông Hán) sau năm 938 với chiến thắng Bạch Đằng Giang lừng lẫy mở ra thời kỳ độc lập dân tộc lâu dài, cũng từ đây ảnh hưởng của Đạo gia, Đạo giáo đối với văn hóa dân tộc cũng chuyển sang một bước ngoặt mới. Nếu như trước đây sự tiếp thu có phần tự phát, riêng rẽ thì giờ đây đã có những điều kiện đảm bảo cho sự hình thành và khẳng định bản sắc văn hóa Việt, trong hệ thống triết học cũng như tín ngưỡng này. Một quỹ đạo mới, với tâm điểm là văn hóa phong kiến Việt buổi ban đầu có sự góp mặt của hệ tư tưởng đạo giáo, nhất là trong văn hóa dân gian. Đến thời Lý - Trần đã có thể cơ bản hài hòa sự phát triển tam giáo Nho - Phật - Lão (Đạo giáo).

 

Các tư liệu lịch sử có ghi lại (với nguồn chính là Đại Việt Sử Ký Toàn Thư) "Năm 1123 khi vua Lý Nhân Tông đến hành cung Ứng Hòa xem gặt lúa, lúc về đến kinh sư thì các nhà Nho - Đạo - Thích đều dâng thơ mừng", tiếp đó "Năm 1321 đạo sĩ Hứa Tông Đạo đúc chuông ở Thông Thánh Quán, Bạch Hạc (Vĩnh Phúc) làm bài minh trên chuông ghi lại nhiều sự kiện lịch sử đời sống đương thời", rồi "Năm 1386 gặp tiết Nguyên Tiêu, có đạo nhân là Lê Pháp Quang treo đèn đặt tiệc, mời khách văn chương đến dự làm vui".

Như vậy có thể thấy rằng trong buổi đầu của thời kỳ phát triển phong kiến Việt Nam, Đạo Giáo tuy địa vị không trội như Nho - Phật nhưng có vị trí nhất định được nhà nước phong kiến công nhận. Đạo giáo trong giai đoạn này có tính nhập thế rõ nét, không nói nhiều đến chuyện tịch cốc, tu luyện thần tiên, mà chú trọng hơn đến vấn đề đạo thuật mang tính thực tiễn, cải biến dân sinh xã hội, bên cạnh đó khẳng định chủ quyền đất nước và bản sắc dân tộc.

Là người Việt Nam chúng ta đều biết bài thơ thần "Nam quốc Sơn Hà" được cho rằng do thần nhân ứng giáng, để danh tướng Lý Thường Kiệt đọc trên sông Như Nguyệt, kích thích tinh thần binh sĩ dành thắng lợi trong trận chiến chống ngoại xâm. Hai câu đầu của bài thơ "Nam quốc sơn hà nam đế cư. Tiệt nhiên định phận tại thiên thư". Có thể thấy rằng "thiên thư" vốn là thuật ngữ của Đạo giáo, (sách kinh ghi lời của đức Nguyên Thủy Thiên Tôn), sau này được đạo giáo sử dụng để gọi các văn bản có nguồn gốc thần bí, với khả năng tiên tri dự báo tuyệt đối. "Thiên thư" có thể là cả một bộ kinh, một bài thơ, hay cũng có thể chỉ vài chữ, vài câu. Xét trên ý này thì bài thơ "Nam quốc sơn hà" cũng là một "thiên thư". T ừ này còn xuất hiện một lần nữa trong các văn bản lịch sử giai đoạn này, vào năm 1134 "Người lính ở quận Hữu Hưng là Vương Cửu dâng rùa có sáu con ngươi, trên ức có nét chữ triện. Nhà vua xuống chiếu cho các học sinh và tăng đạo nhận xét, thành ra tám chữ "THIÊN THƯ HẠ THỊ - THÁNH NHÂN VẠN TUẾ". Việc biện hai chữ "Thiên thư" này rõ ràng có bàn tay đóng góp của các đạo sĩ thời đó.

Xuôi dòng lịch sử chúng ta dễ dàng nhìn thấy những câu văn vần mang tính chất "sấm vĩ" dự báo sự thay đổi triều đại, hay những bước ngoặt lớn của đất nước như "Thập bát tử đăng tiên. Kế đô nhị thập thiên" dự báo việc vua Đinh Tiên Hoàng bị ám sát, Lê Đại Hành sau đó lên làm vua, và rất nhiều những câu sấm vĩ như vậy trong các triều đại kế tiếp, mà việc sử dụng thuật ngữ của đạo giáo phổ biến (Ở ví dụ trên là từ "đăng tiên" hay sao "Kế đô" trong cửu tinh của đạo giáo). Theo học giả Nguyễn Duy Hinh thì "Sấm ngữ là hoạt động của đạo giáo mượn phương thuật Tiên Tần để phục vụ đạo giáo".

Kẻ hậu sinh mạo muội suy tưởng rằng, tư tưởng đạo giáo luôn đồng hành cùng sự phát triển của lịch sử dân tộc là thế. Có điều "Đạo khả đạo phi thường đạo. Danh khả danh phi thường danh", nguyên lý tối hậu, sự thật tối hậu, hình như không thể gọi ra được một hình thù rõ ràng, như rồng biến ảo khôn lường, mà không phải ai cũng cơ may một lần trong đời sống hỗn độn này, chạm tới được.

 

Ngũ Nhạc Quán

 

 

 

 

Bình luận (1)
binh-luan

Người buôn gió

01/06/2018
Bài viết khái lược rất hay vị trí của Đạo giáo trong lòng dân tộc
VIẾT BÌNH LUẬN